Tinh hoa nghệ thuật đúc đồng làng Đại Bái

Trải qua những chặng đường khúc khuỷu để tạo nên thành phẩm, người thợ gò đồng Đại Bái đã phải giải quyết nhiều yếu tố kỹ thuật mang tính tổ hợp và phức tạp.

 

Trải qua những chặng đường khúc khuỷu để tạo nên thành phẩm, người thợ gò đồng Đại Bái đã phải giải quyết nhiều yếu tố kỹ thuật mang tính tổ hợp và phức tạp.

 

a) Về chất liệu tạo lò luyện và cấu trúc bên trong của lò:

Bùn ao và trấu là những nguyên liệu sẵn có ở bất cứ một làng quê nào. Dùng hai loại nguyên liệu này luyện kỹ với nhau để đắp thành lò và lốc lò. Vật liệu đó vừa bảo đảm độ bền vững, vừa cách nhiệt tốt, không bị rạn nứt khi lò vận hành. Thành lò chịu nhiệt và mặt dưới của lốc được trát một lớp mỏng vật liệu chế như sau: Bùn ao đã được tinh lọc trộn đều với tỉ lệ 1/3 bột than trấu mịn. Thực tế đã xác nhận là cả hai loại vật liệu tạo lò đó là lý tưởng và kinh tế nhất trong phạm vi một lò luyện thủ công ở một vùng nông thôn chuyên trồng lúa nước.

Để tạo cho nhiệt trải đều trên toàn bộ nồi nấu đồng, mỗi điểm trên thành nồi đều là một tiêu điểm tập trung nhiệt, phối hợp với hình dạng nồi nấu, lò được tạo hình theo một chiếc chum đất truyền thống úp ngược. Để có một luồng lửa xoắn trong khoảng không gian giữa thành lò và thành nồi, trên hông lò luyện ở điểm 1/3 cách miệng lò được bố trí một ống thổi gió từ một bể gắn van lông gà. Ống thổi gió này từ nhà nghề gọi là ống Gióng. Phần miệng ống gióng thổi vào lò gọi là móng. Lòng móng thắt dần lại cho đến miệng móng, tựa như khi ta chúm môi thổi lửa. Miệng móng nằm ở một vị trí xéo, hợp lý nhất theo phương của ống gióng.

b) Về chất liệu tạo nồi đất:

Nhằm thoả mã ba mục tiêu chính là chịu lửa, chịu lực chứa và dẫn nhiệt tốt, ngoài hình dáng lý tưởng của nồi nấu đã nói ở trên, chất liệu tạo nồi nấu giữ vai trò quyết định. Chất liệu gồm:

- Bùn ao làng Đại Bái.

- Than trấu đen rây mịn (tỷ lệ ước 1/3).

- Vài gam muối ăn.

(Tại sao phải dùng bùn ao làng Đại Bái?

Vật cần luyện ở đây là hợp kim đồng. Vì vậy trong vật liệu tạo nồi cần phải có rác. Rác đó thực tế là các oxyde đồng và muối đồng. Bùn ao làng Đại Bái được chọn làm vật liệu thay thế cho thứ rác ấy. Ta có thể nhận xét: Đại Bái là một làng chuyên nghề gò đồng hàng mấy trăm năm nay, điểm trũng nhất của ao làng là nơi tập trung đầy đủ nhất các loại oxyde đồng và muối đồng. Các nguyên liệu phụ chứa trong bùn ao này đã đem lại tính dễ nóng chảy, tính liên kết (tính dai) và tính truyền nhiệt tốt của nồi nấu. Tháng năm và kinh nghiệm cùng với linh cảm kỹ thuật, người thợ làng Đại Bái đã phát hiện ra của quý ấy của làng mình).

Từ các nguyên liệu đó, người thợ Đại Bái đã luyện kỹ với nhau, luyện cho đạt đến một độ dẻo lỹ tưởng. Chính nhờ vật liệu tạo được này mà hàng triệu triệu chiếc nồi nấu đồng đã ra đời nối tiếp nhau. Bùn vẫn được vét, lòng ao vẫn cứ đầy. Sự "vĩnh hằng" của nồi nấu đã định tính cho sự "vĩnh hằng" của nghề gò đồng Đại Bái.

c) Về khuôn đúc:

Khuôn đúc được dát bao gồm một dát đồng (hoặc dát sắt) và một cơi. Để tạo ra độ trơn (độ dẫn) và chống bám khi rót nước đồng vào khuôn, trên mặt dát người thợ đã xoa một lớp dầu - thầu dầu. Đó là loại dầu được đánh giá là tốt nhất và tiết kiệm nhất cho công đoạn đúc này. Thứ đến mới là dầu lạc. Khi mặt dát bị rỗ hay bị nứt, người ta làm nhẵn trở lại bằng mồi cơi. Vật liệu của mồi cơi cũng là vật liệu chế tạo nồi.

Dát đồng (hoặc dát sắt) bít mồi cơi, đều phải qua giai đoạn đốt trong than lim. Đốt đến khi nào mặt mồi cơi trắng ra mới đem đổ dát.

d) Về luyện đồng:

Khác hẳn với nghề đúc đồng, nghề gò đồng của người thợ thủ công Đại Bái kỵ nhất một thứ kim loại đó là thiếc. Nguyên liệu thiếc hoàn toàn vắng mặt trong việc luyện tạo hợp kim đồng dẻo ở lĩnh vực gò đồng này. Chỉ lẫn một tỷ lệ thiếc rất nhỏ trong hợp kim thì dát gò sẽ bị dạn, bị nứt; rạn nứt ngay trong công đoạn đánh dát đầu tiên.

Đối chiếu với kiểm nghiệm khoa học ngày nay, có thể nghĩ rằng, do kinh nghiệm lâu đời, do quá trình thử thách trong tập tục hành nghề và lợi ích sử dụng, người thợ gò đồng Đại Bái mặc dầu không có nhiều kiến thức lý hoá cũng đã tự hình thành lên một bảng các thành phần nguyên liệu để chế tạo hợp kim đồng dèo phù hợp cho từng chủng loại mặt hàng như sau:

- Nồi: đồng đỏ nguyên chất.

- Mâm, sanh, chậu: hợp kim của đồng với kẽm (từ 28% - 45%) và chì (1% - 2%).

- Siêu, chiêng, cồng: Hợp kim của đồng với kẽm (từ 28% - 45%).

Ngoài ra trong kỹ thuật ghép tam khí, người thợ làng Đại Bái đã sử dụng một tỷ lệ thấp lượng vàng và bạc trong hợp kim nhằm để tạo mầu và tăng độ bóng của sản phẩm.

e) Về vẩy hàn:

Từ nhà nghề goih thuốc hàn là vẩy hàn. Người thợ Đại Bái chế ra thứ này để hàn chỗ nứt hay rỗ thủng của miếng dát. Có hai loại vẩy:

- Vẩy dai, chế từ hợp kim 6 phần đồng và 4 phần kẽm, dùng cho các mối hàn nối, hàn các vết nứt trên dát tạo nồi, mâm, thau, chiêng, cồng... mối hàn bền chặt và chịu được lực dát.

- Vẩy xuê, chế từ hợp kim gồm 4 phần đồng và 6 phần kẽm, dùng để hàn các vễt rỗ, vết thủng trên dát.

Nhằm nâng cao chất lượng của cả hai loại vẩy hàn, người thợ Đại Bái đã sử dụng một lượng hàn the thích hợp. Có một thành ngữ giúp cho người thợ hàn quan sát dấu hiệu về chất lượng của thành phẩm là "Bệt răng mảnh bát, nát răng cá chuối" tương ứng với tính ròn của vẩy xuê, tính dẻo của vẩy dai.

g) Một số khâu kỹ thuật khác:

Trong quá trình lao động để tạo nên thành phẩm, người thợ gò đồng Đại Bái dần dần đã đạt đến một trình độ nghệ thuật qua tích luỹ kinh nghiệm và qua sự khéo léo tài hoa. Có thể nhận ra điều này qua một vài công đoạn sản xuất. Sau công đoạn đúc dát là công đoạn đánh dát. Đánh dát để được dát tròn. Đánh dát tròn rồi mới bước sang công đoạn gò sản phẩm. Không một ai đúc dát tròn để bỏ qua công đoạn đánh dát cả. Qua thực tế, người thợ đã kiểm tra chính xác độ dày mỏng của thành phẩm để quyết định phương án về hình dáng của dát đúc. Dát đúc vuông khi gò sẽ bị hụt, dát đúc tròn khi gò sẽ dôi. Ở đây cũng có người quan niệm, dát đúc rồi phải qua công đoạn đánh dát để chịu dùi (đánh dát phải dùng đe tròn và dùi lớn); Chịu dùi rồi mới gò được (dùi gò bằng 2/3 dùi dát). Nhưng vấn đề ở đây lại phụ thuộc nước đồng. Nước đồng (hợp kim đồng nóng chảy trong lò luyện) đổ khuôn ở thời điểm nào thì tốt, ở thời điểm nào thì hỏng. Người ta cũng có câu tổng kết: non nổ già tan (nước đồng non lửa thì dát sẽ rỗ, nước đồng già lửa thì khi dát, khi gò sẽ vỡ...).

Nghệ thuật đánh dát là nghệ thuật đặt vị trí của mũi dùi dát. Được dát tròn, người thợ bước vào công đoạn gò sản phảm. Kim chỉ nam của công đoạn này là: "Dày bổ trong, mỏng bổ ngoài" (chỗ dát dày thì mũi dùi gò phải bổ từ phía trong ra, chỗ mỏng thì phải bổ từ phía ngoài vào). Công đoạn gò chia ra nhiều khâu: đánh trôn, khoanh, lọng, tương ứng với việc sử dụng các dụng cụ: đe tròn, dùi gò, dùi lọng, đồng đanh...

Cái đẹp của một sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào hình dáng, đường nét, mà nó còn phụ thuộc cả vào màu sắc của sản phẩm đó nữa. Vì vậy, trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, người thợ gò đồng chỉ thoả mãn khi nó đã đi qua khâu vầy và vã hoa. Nghĩa là, sản phẩm gò xong sẽ được đánh tro, trấu và các chất chua cho sạch bóng. Sau đó nó được đốt trong than lim cho tới khi hiện lại màu đỏ ròng hoặc tựa màu vàng mười (tuỳ theo nồi hay mâm, thau, sanh...) trước khi vã hoa (từ nhà nghề gọi đó là vầy.

Trường hợp với những sản phẩm thuộc mặt hàng ghép tam khí người thợ đi vào nghệ thuật thể hiện tỉ mỉ hơn. Có thể hình dung các công đoạn sau đây trong cả quá trình tạo ra thành phầm:

- Vẽ hoạ, ghi nét trên vật phẩm.

- Dùng ve đục tẩy những phần trên vật phẩm mà sau đó ghép kim loại khác nhau để lấy màu.

- Ốp giấy trên hình đã chạm được, dùng vồ sừng nhỏ vỗ nhẹ để cắt mẫu.

- Dán mẫu giấy trên các bản kim loại và cắt.

- Ghép các hình cắt được vào vật phẩm.

- Mài dũa và đánh bóng.

Và cuối cùng là khâu đóng khung kính để hoàn thiện một sản phẩm đã đưa ra thị trường.

Đăng bởi anh huy lúc .

Bình luận

Để lại bình luận